lunes, 28 de febrero de 2011

PARAGUAY – TẢN MẠN VỌNG-GIÁNG SINH 2010



Hành hương Linh Địa Caacupe
Trong tháng 12, về phương diện tôn giáo, có 2 lễ lớn là lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và lễ Giáng Sinh. Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (8.12) thì có nhiều giáo phận, nhiều quốc gia nhận làm thánh Bổn mạng và cử hành rất trọng thể. Và dĩ nhiên lễ Giáng Sinh là đại lễ mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có những cách cử hành hay biểu lộ riêng trong ngày lễ đặc biệt này.
Tôi đã có lần chia sẻ về cách hành đạo của người Paraguay trong các dịp lễ, cách riêng là các dịp lễ tôn kính Đức Mẹ vì đây là một trong các quốc gia vùng Nam Mỹ “muy mariano” (rất sùng kính Đức Mẹ) . Nhân đây, tôi muốn chia sẻ thêm về sự kiện đặc biệt này để các bạn hữu Việt Nam xa gần hiểu thêm về con người Paraguay và cách thể hiện niềm tin của họ.
Gần 3 năm rồi tôi không có dịp hành hương linh địa Đức Mẹ Caacupe Ở Paraguay vì nhiều lý do. Tuy nhiên, năm nay tôi có cơ hội và được mời chủ tế và giảng lễ trong ngày vọng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội mà giáo hội Công giáo Paraguay nhận làm Quan Thầy và đặt tên cho trung tâm của Linh Địa là Nuestra Señora de Caacupe (Đức Mẹ Caacupe), giống như Việt Nam chúng ta có Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La-vang.
Các nước Nam Mỹ nói chung rất sùng kính Đức Mẹ và hầu như các quốc gia này đều có những cuộc hiện ra của Đức Mẹ để gia tăng lòng tin cho các tín hữu và châu lục vốn được xem là Tân Thế giới này. Nước Brazil với trung tâm hành hương Đức Mẹ Aparecida mà năm 2007 đã diễn ra Thượng Hội Đồng Giám Mục Châu Mỹ và vùng Caribe với sự hiện diện của đương kiêm Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI. Nước Argentina, láng giềng của Paraguay với Đức Mẹ Luján được mừng trọng thể ngày 4 tháng 5 hàng năm. Trung Tâm hành hương Đức Mẹ Guadalupe của nước Mexico, một trong những Trung Tâm hành hương lớn nhất (chỉ sau đền Thánh Phê-rô) vừa được mừng kính trọng thể vào ngày 12 tháng 12 vừa qua. Và, Paraguay, thủ đô hành chính là Asuncion, nhưng thủ đô tinh thần chính là Linh Địa Đức Mẹ Caacupe, thủ phủ của bang Cordillera của nước Paraguay. Hàng năm, có khoảng 3 triệu lượt khách hành hương đến viếng Linh Địa này.
Trong những ngày chuẩn bị cho đại lễ Đức Mẹ, từng đoàn người hối hả đến trung tâm hành hương Đức Mẹ giữa mùa hè oi bức và thỉnh thoảng những cơn mưa xối xả với những cơn gió mạnh khiến đường xá ngập nước và cây cối ngã nghiêng. Dù mưa to gió lớn nhưng không làm nhục chí những khách hành hương vốn có lời nguyện ước với Mẹ dù chỉ một lần trong năm tham dự thánh lễ. Tôi cũng hòa vào đoàn hành hương ấy để kính viếng Đức Mẹ và xin Mẹ cho tôi được trung thành với ơn gọi của một tu sĩ truyền giáo.
Năm nay, lần đầu tiên tôi được mời chủ tế và giảng lễ cho giới trẻ và giới tu sĩ trong ngày vọng lễ Đức Mẹ. Trước khi thánh lễ bắt đầu, một số báo, đài đã phỏng vấn tôi để hiểu biết thêm về Việt Nam, nhất là về việc thực hành niềm tin của người Công giáo ở Việt Nam. Tôi cũng có dịp chia sẻ với họ về Đại Hội Dân Chúa vừa diễn ra ở Việt Nam vào tháng 11 vừa qua và cảm thấy hãnh diện vì tôi là một tu sĩ Việt Nam đang làm việc truyền giáo tại Paraguay.
Vừa chuẩn bị dâng thánh lễ thì trời mưa to khiến tất cả mọi người đang ở ngoài đều tập trung chật ních trong nhà thờ. Một linh mục trẻ mới từ Ghana qua đã cùng đồng tế với tôi trong thánh lễ này. Trong bài giảng lễ, tôi đã chia sẻ với những khách hành hương về cách biểu lộ đức tin không chỉ là tham dự thánh lễ với những nghi thức hoành tráng như hôm nay mà cần phải thực thi đức công bằng, bác ái và lòng tín trung. Tín trung với Chúa, với tổ quốc và tín trung trong từng bậc sống của mình. Paraguay là một quốc gia phần đa là Công giáo. Tuy nhiên có lẽ vì thiếu linh mục, thiếu sự hướng dẫn về đạo nghĩa, và họ là công giáo đó nhưng là công giáo của “hạt giống bên vệ đường” (Xc. Mt. 13, 5tt) nên thiếu chiều sâu nội tâm và vì thế, khi có sự cố là họ bỏ đạo không thương tiếc! Nhiều người Công giáo nhưng chỉ tham dự thánh lễ vài lần trong đời mà thôi. Vả lại nếu họ muốn tham dự thánh lễ thì có chỗ nào đâu mà tham dự. Nếu tình cờ một vị mục sư Tin Lành đến cử hành trong vùng của họ thì họ vẫn tưởng là thánh lễ của Công giáo. Cũng may mà có các dịp lễ về Đức Mẹ mà họ đã quay trở lại với Chúa dù chỉ vài lần trong đời.
Còn nói về sự trung tín trong đời sống tu trì hay đời sống hôn nhân thì hơi khó đối với họ. Có lẽ do hoàn cảnh lịch sử và chiến tranh đã tác động mạnh mẽ lên ‎‎‎ý thức hệ của người dân xứ này. Số xuất tu nhiều hơn số nhập tu, và lí do xuất tu chủ yếu là vì gặp trở ngại trong lời khấn khiết tịnh. Còn trung tín trong đời sống gia đình thì khỏi phải bàn luận vì đây là vấn đề muôn thuở và khá tế nhị trong tòa giảng và tòa giải tội. Cũng may mà nhờ có Đức Mẹ mà người ta mới mon men đến với Chúa dù chỉ là những lần hiếm hoi như dịp này. Có lẽ khách hành hương lâu ngày thấy một gương mặt lạ hoắc người Á châu chủ tế và giảng lễ hơi khôi hài nên thỉnh thoảng họ vỗ tay thật to để khích lệ làm cho tôi cảm thấy vui vui. Cũng chính vì thế mà sau thánh lễ tôi lại tiếp tục được mời phỏng vấn và nhiều người lại chạy đến xin hòa giải với Chúa, các Soeurs trẻ thì bao vây chúc mừng. Thôi thì lâu ngày con lừa này của Chúa cũng được lên hương một chút cho hưng phấn cuộc đời để tạo thêm nguồn vui cho những ngày tháng kế tiếp.

Mùa Giáng sinh 2010
Mùa Giáng sinh ở Nam Mỹ là mùa Hè nên trời oi bức và hay mưa lắm. Tôi đã kinh nghiệm chuyện này nhiều năm nên cũng không phiền hà hay đổ tội cho ông trời như những năm trước nữa. Giáng sinh là ngày hội ngộ của gia đình như dịp Tết Nguyên Đán của Việt Nam nên Hội Đồng Giám Mục đã cho ấn hành các tài liệu “Navidad en Familia” (Giáng Sinh trong Gia Đình) và kêu gọi các giáo dân trong cùng khu xóm học hỏi và cử hành các tài liệu ấy tại các gia đình. Tôi cũng đến với các gia đình và kêu gọi những người biết chút ít về trang trí, kịch nghệ để tập cho các em làm kịch Giáng sinh mừng Chúa. Có một cặp vợ chồng trẻ với 1 bé gái khoảng 2 tháng trông rất kháu khỉnh chấp nhận làm “hang đá sống” (Pesebre viviente) trong Đêm Vọng-Giáng Sinh thật vui. Tôi cũng kêu gọi mọi người chuẩn bị một số bánh kẹo và một món quà gì đó để sau thánh lễ tặng cho nhau và cùng nhau chia sẻ chút bánh kẹo trong ngày Chúa sinh ra. Chiều 24.12 dù trời mưa rất lớn nhưng tối hôm ấy tôi cũng phải chạy sô để dâng 2 thánh lễ ở hai cộng đoàn và cùng chia sẻ những viên kẹo Giáng sinh với những người tham dự. Tôi cảm thấy lòng mình ấm hơn vì dần dần mọi người ‎‎‎ý thức hơn vào các dịp lễ. Chúa Hài Đồng đã nghe lời khẩn cầu của tôi vì có những lúc tôi đã gào thét với Ngài.

Lễ cuối năm và các bài sai mới
Sau những ngày Đại Lễ của Giáo Hội, Tỉnh Dòng Ngôi Lời chúng tôi tại Paraguay có dịp ngồi lại với nhau để tổ chức bữa tiệc gia đình tu sĩ và cũng để thăm mộ của những anh em quá cố trong Dòng. Chúng tôi đã dâng thánh lễ để tạ ơn Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban cho từng người và cho Tỉnh Dòng trong cả năm qua. Năm nay Tỉnh Dòng có nhiều thuyên chuyển mới vì chúng tôi có vị Giám Tỉnh Mới và Hội Đồng Bề Trên Mới sẽ nhậm chức ngày 1.1.2011. Cha bạn đồng hương của tôi được phân nhiệm làm cha xứ nơi tôi từng phục vụ, và Nhà Dòng đã tiếp tục giữ tôi lại trong vai trò đạo tạo các tu sĩ truyền giáo tương lai và tuyên úy cho một số phong trào. Tôi hơn buồn vì không được trực tiếp ở gần đàn chiên nhưng tôi phải vâng lời vì mỗi công việc đều hướng đến phục vụ Chúa và tha nhân. Dù tôi không là cha xứ trực tiếp nhưng tôi vẫn có một số giáo điểm truyền giáo để làm việc, đó cũng là một niềm an ủi đối với tôi.
Hôm nay là ngày cuối năm dương lịch và tất cả những người con Paraguay ở xa đều đã tựu về với gia đình của họ. Có lẽ vì cũng đã quen với nếp sống xa xứ và đã dần quen với công việc nên tôi không còn nhớ nhà da diết như những năm đầu. Xin cầu chúc mọi người bước sang năm mới 2011 được dồi dào sức khỏe, công việc ổn định, gia đình hạnh phúc và nhất là tràn đầy hồng ân Chúa. Happy New Year 2011.
Paraguay, 31 tháng 12 năm 2010
Lm. Antôn Trần Xuân Sang, SVD.

martes, 30 de noviembre de 2010

NHÂN LỄ THANKSGIVING, XIN CHIA SẺ MỘT VÀI PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI PARAGUAY


Những ngày tháng cuối năm dương lịch, những quốc gia có truyền thống Ki-tô giáo, nhất là các nước ở châu Mỹ thường có những lễ hội đặc biệt để kiểm điểm lại đời sống và tạ ơn đất trời vì đã ban cho họ những điều tốt lành trong năm qua.
Ở các nước vùng Bắc Mỹ như Hoa Kỳ và Canada, người ta có một ngày tương tự như vậy mà người ta quen gọi là ngày Thanhsgiving (Lễ tạ ơn).
Thanksgiving được coi là dịp để bày tỏ lòng biết ơn và nhất là Tạ Ơn đất trời đã ban cho mùa màng đưọc sinh hoa kết trái, lương thực đồi dào và dùng đủ, và tất cả các ơn lành khác ta nhận được trong cuộc sống. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức với gia đình và bạn bè gặp gỡ, cùng chia sẻ niềm vui, và nhất là một bữa tiệc buổi tối, gia đình sum họp ăn uống vui vẻ. Đây là một ngày quan trọng cho đời sống gia đình, nên dù ở xa, con cháu thường về với gia đình.
Tại Mỹ, ngày lễ này được tổ chức vào thứ 5, tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 hằng năm. Người ta thường được nghỉ 4 ngày cuối tuần cho ngày lễ này tại Hoa Kỳ: họ được nghỉ làm hay nghỉ học vào ngày thứ Năm và thứ Sáu của tuần Lễ Tạ ơn. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức tại nhà, khác với ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ hay Giáng Sinh, là những ngày lễ mà có nhiều tổ chức công cộng.
Ở bên kia đường xích đạo thì khác. Trong khi vùng Bắc Mỹ đang chuẩn bị bước vào mùa Đông lạnh giá vào những tháng cuối năm, thì vùng Nam Mỹ lại bước vào mùa hè nóng bức. Họ cũng có những ngày cuối năm đáng nhớ dù không giống như những người vùng Bắc Mỹ. Người Paraguay quy định năm ngày cuối cùng của năm là “ngày hàn thực”. Trong năm ngày này, từ nguyên thủ quốc gia, đến mọi dân thường đều không được nhóm lửa, đốt lò, chỉ có thể ăn đồ nguội, thức ăn đã làm sẵn từ trước, giống như người Việt trong ngày đưa ông Táo về Trời ngày 23 tháng chạp hàng năm. Đến ngày tết Dương lịch 1/1 mới được phép nhóm lò nấu bếp để cầu chúc một năm mới ấm no, tốt lành.
Tôi cũng từng được mời tham dự những ngày này và quan sát những phong tục của những người chịu ảnh hưởng của văn hóa Âu châu dù họ vẫn còn giữ nhiều tập tục địa phương.
Giống như người Phi Luật Tân ở Đông Nam Á dùng hai ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng Tagalog trong giao tiếp chính thức, người Paraguay cũng dùng hai ngôn ngữ là tiếng Tây Ban Nha và tiếng Guaraní. Tiếng Guaraní là ngôn ngữ của người thổ dân có từ lâu đời trước khi người Tây Ban Nha thực dân đến. Tuy những người thực dân đã thành công trong nhiều vấn đề khi thôn tính Paraguay nói riêng và vùng Nam Mỹ nói chung và gần như tất cả các nước châu Mỹ La Tinh hiện giờ đều dùng tiếng Tây Ban Nha trong giao tiếp (ngoại trừ Brazil nói tiếng Bồ Đào Nha), người Paraguay nói riêng và một số bộ tộc thuộc các quốc gia lân cận vẫn còn biết sử dụng tiếng Guaraní để giao tiếp nội bộ với nhau. Công lao to lớn này thuộc về các nhà truyền giáo đã biết bảo tồn di sản văn hóa và phong tục tập quán của những người bán khai dù chế độ thực dân đã muốn phá bỏ và triệt tiêu.
Trong tiếng Guaraní mà người Paraguay đang dùng không hề hiện hữu hai từ cảm ơn nên đối người thổ dân Guaraní bán khai cũng không hề có sự biết ơn nhau. Chính những nhà truyền giáo đã dạy người thổ dân biết nói lên lời cảm ơn trời đất, và vì thế, khi người dân Paraguay muốn nói lên từ cảm ơn bằng tiếng Guaraní, họ sẽ nói : Aguyje, dịch sang tiếng Tây Ban Nha nghĩa là Que Dios se lo pague (Xin Chúa trả công cho quí vị).
Giống như những quốc gia khác vùng Nam Mỹ, các cô gái Paraguay khi sinh nhật lần thứ 15 đều được gia đình tổ chức một buổi lễ long trọng cả đạo lẫn đời để mọi người biết rằng từ nay những cô gái này bắt đầu bước vào tuổi trưởng thành và người ta sẽ gọi những cô gái ấy là Señorita- như tiếng Anh thường gọi các cô gái trưởng thành chưa có gia đình là Miss. Vì lẽ đó, các cô bé từ nông thôn đến thành thị rất mong đến ngày sinh nhật lần thứ 15 để được chưng diện, được khoe vẻ đẹp của mình và cũng để được người ta gọi là Señorita. Có cả một nghi thức riêng trong cộng đồng những người Hispanic trong việc cử hành lễ sinh nhật lần thứ 15 cho các cô gái thuộc châu Mỹ La Tinh, và theo đó, các linh mục sẽ cử hành.
Một nghi lễ mang đậm tính tôn giáo khác của người Nam Mỹ nói chung và người Paraguay nói riêng là lễ hội Carnaval, bắt đầu diễn ra vào thứ Tư Lễ Tro và kết thúc vào thứ Sáu Tuần Thánh (dịp này vẫn còn là mùa hè nóng bức), mà thoạt nhìn trên hình ảnh người ta sẽ thấy phản cảm khi nhìn các cô gái thi sắc đẹp với bộ bi-ki-ni gắn nhiều lông chim có màu sắc sặc sỡ với nhiều vòng cườm trên cổ và diễu hành trên các đường phố (có thể xem www.carnaval.com.py). Thực ra từ Carnaval xuất phát từ La Tinh carne-levare (nghĩa là kiêng thịt), vì người dân xứ sở này quanh năm ăn thịt nên họ cử hành buổi lễ này để nhắc nhở người ta biết là bắt đầu bước vào mùa chay, dù qua dòng thời gian biến chuyển, những nghi lễ này bị thương mại hóa và trần tục hóa. Do đó, có thể đối với quốc gia này thì một sự kiện được coi là phản cảm khi phụ nữ ăn mặc hớ hên, nhưng đối với dân tộc khác thì sự hớ hên của các phụ nữ lại biểu trưng cho cái đẹp. Tôi không có ý kiến bất cứ điều gì dưới con mắt quan sát của một nhà truyền giáo đang nghiên cứu về ngành nhân chủng, nhưng đối với tôi, nếu chưa hiểu biết rõ về nguồn gốc và ý nghĩa của một phong tục tập quán thì ta không thể kết luận nó tốt hay xấu được.
Phải thực sự nhìn nhận rằng Paraguay và các nước Nam Mỹ nói chung phải biết cám ơn những nhà truyền giáo Dòng Tên, Dòng Phan-xi-cô và các Dòng truyền giáo khác, vì chính những nhà truyền giáo này, chứ không phải những người thực dân Âu Châu, đã đem ánh sang Tin Mừng và nền văn minh tình thương đến cho những người dân tộc bán khai và soi sáng cho họ con đường bước đến chân lý.
Không biết tự bao giờ, có lẽ từ ngày có trí khôn tôi đã thắc mắc nhiều đến hai chữ : Dòng Tên. Tại sao gọi là Dòng Tên? Câu hỏi ấy cứ theo tôi mãi cho đến một ngày tôi đọc được tiểu sử một nhà truyền giáo Dòng Tên nổi tiếng tại Việt Nam với tên gọi là Alexandre de Rhodes (Cố Đắc Lộ), và từ đó tôi luôn thích thú và ngưỡng mộ các vị thừa sai Dòng Tên. Tôi đã mong ước một ngày nào đó tôi cũng được trở nên một nhà truyền giáo giống như họ.
Ở Việt Nam, có lẽ người ngoài công giáo không biết nhiều đến sự nghiệp truyền giáo của Cha Đắc Lộ, nhưng có một chuyện mà người Việt Nam nào cũng phải biết ơn ngài bởi vì chính cha là người đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại bằng công trình Tự điển Việt-Bồ-La, hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh mà ngày nay gần 90 triệu người Việt Nam trong nước hay ở hải ngoại đang dùng ngôn ngữ này. Có một con đường, tuy nhỏ, gần khuôn viên Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn, mang tên vị thừa sai khả kính này để tôn vinh ngài.
Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam trước đây sử dụng chữ viết của người Trung Hoa và bị nô lệ vì chữ viết này. Cách đây không lâu, người Hàn quốc mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì sau nhiều lần thử nghiệm, đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Trung Hoa.
Trong khi đó, người người Trung Hoa đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Hoa đến 3 thế kỷ.
Sở dĩ tôi hơi dài dòng như thế về các thừa sai Dòng Tên vì chính nơi tôi đang thi hành công tác truyền giáo cũng mang đậm dấu ấn của các thừa sai Dòng Tên. Ở đất nước Paraguay nhỏ bé này cũng có một vị thánh tử đạo duy nhất là một linh mục Dòng Tên người Paraguay với tên gọi là thánh Roque González de Santacruz mà giáo hội Công giáo tại Paraguay vừa mừng lễ trọng thể ngày 15 tháng 11 vừa qua. Các di tích, các nhà thờ, các cơ sở tôn giáo… hiện giờ vẫn còn ghi dấu của các thừa sai Dòng Tên. Dù là tu sĩ truyền giáo của Dòng Ngôi Lời, tôi vẫn luôn ngưỡng mộ, tâm phục khẩu phục các vị Dòng Tên vì chính họ đã để lại trong tôi những ấn tượng đẹp.
Ngày 5 tháng 11 vừa qua, Dòng Tên tại Paraguay đã tổ chức thánh lễ chung mừng tất cả các vị thánh của Dòng Tên, và cũng dịp này họ tiếp đón cha Bề Trên Tổng Quyền từ Roma đến Paraguay tham dự cuộc họp của các Bề Trên Thượng Cấp của họ tại Vùng Châu Mỹ La-tin. Cũng tối hôm ấy, tại Trung Tâm Văn Hóa của thủ đô Asunción, Paraguay, họ đã tố chức một buổi hòa nhạc đặc sắc để chào đón cha Tổng Quyền của Dòng mà tôi nghe một số người nói đó là “el Papa Negro” (Giáo Hoàng Đen). Tôi có thắc mắc với cách gọi này và một linh mục người Đức lớn tuổi đã giải thích cho tôi vai trò quan trọng của vị Tổng Quyền Dòng Tên trong những vấn đề của Giáo Hội. Mỗi Hội Dòng có hai khách mời tham dự buổi hòa nhạc này. Tôi được Bề trên cử đi tham dự với tư cách là một nhà đào tạo, và có thể nói đây là lần đầu tiên một anh hai lúa như tôi sau mấy năm lam lũ ở xứ truyền giáo được bước vào rạp hát lớn dành cho khách VIP.
Trong phần giới thiệu các khách mời tham dự, cha Giám tỉnh Dòng Tên Paraguay Carlos Canillas đã cho biết ngoài sự hiện diện của cha Tổng Quyền Dòng Tên Adolfo Nicaolaz Pachón đến từ Rôma, còn có 5 vị giám mục của Dòng Tên vùng châu Mỹ La-tin, có các vị Giám tỉnh của Dòng Tên ở các nước Nam Mỹ và tất cả các khách mời danh dự của các các Dòng và triều đang làm việc ở Paraguay. Về phía chính quyền, có sự tham dự của một số vị Bộ trưởng, các Thượng nghị sĩ từng là học trò của các cha Dòng Tên cũng đến dự. Tuy rạp hát không được rộng rãi lắm như các rạp hát chuyên nghiệp ở Mỹ hay Âu châu nhưng được thiết kế khá đặc biệt cho các buổi trình diễn Opera và kịch nghệ.
Lâu nay tôi cứ nghĩ là các Tu sĩ Dòng Tên chỉ biết dạy học, viết sách và giảng tĩnh tâm, linh thao. Mà quả thực là như thế vì đó chính là chuyên ngành của họ. Chính tại Paraguay trong các cuộc tĩnh tâm hàng năm, nhà Dòng chúng tôi thường mời các cha Dòng Tên đến chia sẻ và giúp tĩnh tâm. Vậy mà tối hôm ấy có một Tu sĩ trẻ Dòng Tên đã điều khiển một nhóm trẻ tuổi từ 9 đến 20 với những nhạc cụ được làm từ những rác thải như nắp bia, lon sữa bò, thùng thiếc hư… để tạo nên một dàn nhạc hòa tấu với những cung điệu tuyệt vời trong phần khai mạc. Đây là một điều ngạc nhiên thú vị đối với tôi vì hồi nào tới giờ tôi chưa từng nghe một cha nào Dòng Tên biết đàn hát! Có lẽ tôi là “con ếch ngồi đáy giếng” nên còn ngu muội chưa biết thế giới bao la kia của các Tu sĩ Dòng Tên ngoài kiến thức uyên thâm còn biết rất nhiều những tài vặt của nghề tay trái.
Phần biểu diễn Ba-lê ấn tượng và chiếm nhiều giờ nhất trong buổi hòa nhạc là vở “Linh Thao của Thánh I-nha-xi-ô” do gần 40 diễn viên chuyên nghiệp trình bày với nhạc nền và ánh sáng huyền ảo của sân khấu đưa người xem vào một cuộc chiêm ngắm từ lúc Sứ Thần Truyền Tin cho Đức Mẹ đến lúc Chúa Phục Sinh. Thật sự tôi chẳng hiểu gì ngôn ngữ của những vũ điệu Ba-lê nhưng những bước chân thoăn thoắt, nhè nhẹ của những diễn viên Ba-lê chuyên nghiệp cộng với những bài nhạc thánh ca hút hồn như Avemaria, la Saeta… đã khiến tôi nhập cuộc trong một giờ linh thao ý nghĩa này. Xem hòa nhạc nhưng lại được linh thao đó là điều tuyệt vời mà lần đầu tiên trong đời tôi được cảm nhận trong vở diễn Ba-lê dưới sự dẫn dắt tài tình của giáo sư Miguel Bonnin.
Kết thúc phần hòa nhạc, các khách mời cùng nhau nâng ly chúc mừng và nói chuyện với nhau ở tiền sảnh Nhà Hát. Tôi có đến chào Cha Tổng Quyền và khi nhìn thấy khuôn mặt Á châu của tôi, ngài tưởng tôi là người Nhật vì ngài nói đã từng làm việc ở Nhật 36 năm. Tôi nói với ngài tôi là người Việt Nam và ngài ồ lên một tiếng và nói với tôi rằng ngài đã từng đến Việt Nam. Tôi thấy ngài bình dị và khiêm nhường quá chừng. Chúng tôi đã chụp hình lưu niệm với nhau và cùng chúc nhau mọi điều tốt đẹp.
Thứ Năm này là ngày Thanksgiving và cũng là những ngày cuối cùng của năm phụng vụ C. Ngồi viết bài này thì nhận được tin linh mục tài hoa Anrê Trần Cao Tường, người sáng lập trang mạng www.dunglac.org rất hữu ích mà tôi yêu thích vừa mới qua đời. Xin thắp lên một nén hương cho cha Anrê và xin Chúa sớm đưa linh hồn cha vào Vương Quốc Vĩnh Cửu của Người. Những ngày tháng cuối năm cũng là lúc chúng ta biết kiểm thảo lại cuộc sống của mình. Nhìn về đất mẹ Việt Nam và nhiều nước trên thế giới với bao thảm họa thiên nhiên làm thiệt hại nhiều về nhân mạng và vật chất cũng là một lời cảnh tỉnh cho chúng ta, những người còn sống, biết đọc và nhận ra những dấu chỉ thời đại này.
Xin chúc mừng Lễ Tạ Ơn đến những người thân và bạn bè đang sống ở Mỹ và Canada. Chắc là quý vị đang chuẩn bị những con gà tây quay thật ngon để mừng lễ. Tôi cũng quyết định kiếm con gà “đi bộ” để ăn ké lễ này với mọi người. Happy thanksgiving – Feliz thanksgiving. May God bless you all.
Paraguay, dịp lễ Thanksgiving 2010
Lm. Antôn Trần Xuân Sang, SVD.

PARAGUAY : ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ DỊP KỶ NIỆM CHỊU CHỨC LINH MỤC


Thấm thoát mà đã hết tháng 10, thời gian trôi đi quá nhanh và nhìn lại thì thấy biết bao điều xảy ra trong cuộc đời mình. Hôm nay có một vài người thân gởi thư điện tử và điện thoại chúc mừng ngày chịu chức linh mục, thế là tôi vội ngồi vào máy để viết đôi dòng tâm sự trong ngày kỷ niệm chịu chức của mình.
Những suy nghĩ trái ngược
Có lẽ do những ngày nghĩ hè gặp những người thân yêu vẫn còn đọng lại trong tâm trí dù tôi đã trở lại Paraguay từ những ngày đầu tháng 8. Đôi lúc cảm thấy thèm ăn một tô phở, tô bún bò hay gói mì tôm sau khi mục vụ về mà chẳng biết mua ở đâu. Xứ sở vắng bóng người Việt thấy cũng buồn. Có vài điều mà tôi muốn chia sẻ ra đây để mọi người biết và cảm thông với tôi nếu lỡ tôi có so sánh hơi khập khiễng. Một anh Ta-ru -một bạn học cũ của tôi sau gần 20 năm xa cách vừa viết cho tôi một email và trách tôi nhiều điều khi đọc các bài chia sẻ truyền giáo của tôi, trong đó anh ta phê bình tôi là có lối so sánh khập khiễng, nhất là vấn đề chuyện đời tu ở bên Nam Mỹ và ở Việt Nam. Anh phê bình tôi thì tôi đành chịu vậy chứ biết sao bây giờ.
Trong những tháng cuối năm phụng vụ, các giáo xứ và giáo điểm truyền giáo ở đây đều chuẩn bị cho các lễ thêm sức, rước lễ lần đầu nên các cha xứ thường mời các cha ngồi tòa. Có lẽ vì thấy tôi còn trẻ trung và dễ chịu nên các cha thường mời tôi ngồi tòa. Tôi còn nhớ lúc còn ở Việt Nam tôi cũng thường được ngồi tòa cùng với rất nhiều cha khác vào các dịp Mùa Chay hay Mùa Vọng ở các giáo xứ tại Sài Gòn. Sau khi ngồi tòa thì các cha được bồi dưỡng tô cháo gà cho ấm bụng, và… dĩ nhiên có một phong bì nữa. Còn những ngày ngôi tòa ở đây, chỉ có 3 linh mục mà con số xưng tội lại quá đông, nhiều người lại chẳng biết xưng tội như thế nào vì có khi cả hơn 30 năm rồi chưa bước đến nhà thờ. Lại thêm một số bà với mùi nước hoa vô cùng khó chịu cứ thao thao bất tuyệt kể những chuyện và những tội của người khác đôi lúc cũng làm tôi bực mình. Ngồi tòa cả mấy tiếng đồng hồ mà chẳng có được một ly nước lã, thậm chí muốn đi vô nhà vệ sinh mà cũng ráng nín cho xong việc, rồi khi xong việc thì nhìn đồng hồ đã gần 11 giờ đêm mà ông cha nhờ mình chẳng hề mời ăn tối, chẳng hề có một lời cảm ơn nên mình lẳng lặng về nhà kiếm chút gì bỏ vào bụng trước khi đi ngủ. Nhiều khi thấy cuộc đời sao nó bạc quá, bạc hơi vôi nữa và chẳng biết có mấy ai hiểu cho cuộc sống ở đất lạ quê người này. Đôi lúc cũng muốn buông xuôi và xin đến một nơi khác để có một cuộc sống thoải mái hơn và cũng để kiếm chút gì gởi cho cha mẹ già đang bệnh nhưng hình như trong thâm tâm vẫn còn những cuộc đấu tranh tư tưởng và những suy nghĩ trái chiều nhau nên đôi lúc cũng gây ra mất ngủ.
Vì phụ trách mục vụ ơn gọi nên tôi thường phải đi xa để thăm hỏi gia đình các ứng sinh và thuyết trình về ơn gọi ở các trường công cũng như trường tư. Những chuyến đi xa như thế nhiều khi cả tuần lễ mới về lại chỗ cư trú của mình và nhiều lúc không biết mình đang ở đâu khi nửa đêm thức dậy. Tình hình an ninh lúc này không được đảm báo lắm vì hiện giờ ở Paraguay có một nhóm phiến quân EPP có liên hệ với nhóm FARC của Columbia, chuyên bắt cóc, giết người để gây áp lực với chính quyền. Vị tổng thống đương nhiệm của Paraguay đang bị bệnh ung thư, vì thế phe đối lập muốn kiểm soát tình hình nên diễn biến chính trị ở đây khá phức tạp. Tình trạng an ninh luôn là một vấn đề khó khăn cho các nhà truyền giáo nước ngoài. Ai mà không sợ nguy hiểm, ai mà không sợ chết. Chính điều này cũng làm tôi suy nghĩ nhiều. Một số người thân đã khuyên tôi nên suy nghĩ để tìm cho mình một tương lai tươi sáng hơn chứ ở bên Paraguay có gì hay đâu mà ở lại. Tuy nhiên, khi nhìn lại câu Kinh Thánh mà tôi đặt làm kim chỉ nam cho đời mình trong ngày chịu chức : “Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con” (Tv. 30,6) khiến tôi ngẫm nghĩ nhiều vì có lẽ tôi đã thiếu sự phó thác vào Chúa nên hay bị những cám dỗ bên ngoài.
Vì chuyển về giáo phận mới nên công việc của tôi cũng khá phong phú và tôi được làm việc với nhiều đối tượng, nhiều phong trào mà mới nghe tên có thể giật mình như Phong trào giới trẻ thế kỷ XX, REJOP (giới tu sĩ trẻ toàn quốc), Convivistas (Các gia đình cùng sống chung)… Có lẽ vì thiếu linh mục, tu sĩ nên Hội Đồng Giám Mục đã lập nên những đoàn thể và phong trào này để gây ý thức về truyền giáo nhân kỷ niệm 200 thành lập nước Paraguay vào năm 2011 sắp tới. Có nhiều điểm rất hay vì nhờ những phong trào này mà giáo dân tham gia các sinh hoạt tôn giáo nhiều hơn, nhưng bên cạnh đó, một số phong trào chưa được đào tạo kỹ nên họ đã lạm dụng và đã xảy ra những chuyện đáng tiếc.
Có lẽ tôi có ơn gọi làm tuyên úy nên khi tôi đi họp ở giáo phận, các cha thường chỉ định tôi làm tuyên úy cho các đoàn thể và các phong trào, tôi cũng được mời dâng lễ cho các tù nhân nữa. Rồi có thể nay mai đây tôi sẽ làm tuyên úy cho các nha tù cũng không chừng!. Hiện nay có nhiều người thất nghiệp nhưng có lẽ làm linh mục thì không thất nghiệp bao giờ. Những hình thức mục vụ đa dạng này đã giúp tôi mạnh dạn hơn, chín chắn hơn và tôi đã không ngần ngại dấn thân dù có lúc mệt lã người khi trở về nhà.
Đôi điều suy nghĩ về những sự kiện vừa mới xảy ra
Có lẽ một sự kiện mà cả thế giới quan tâm và xúc động trong ngày 13 tháng 10 vừa qua ở nước Chi-lê, Nam Mỹ là 33 thợ mỏ được giải cứu sau 69 ngày bị kẹt dưới lòng đất khoảng 700 mét khi một phần khu mỏ San Jose, nằm giữa sa mạc Atacama bất ngờ đổ sập vào ngày 5.8.2010.
Truyền thông Chi-lê và quốc tế đã liên tục đưa tin sự kiện đáng nhớ này. Đích thân tổng thống Chi-lê cùng phu nhân đã có mặt tại hiện trường từ những giây phút đầu của cuộc giải cứu với lực lượng cứu hộ và gia đình nạn nhân. Ông là người đầu tiên, sau những nhân viên cứu hộ, đến chúc mừng người vừa được kéo lên và ôm họ vào lòng. Ông tuyên bố về quyết tâm “không đầu hàng” của Chính phủ Chi-lê và trấn an tinh thần tất cả mọi người. Ông kể một câu chuyện nhỏ, nhưng rất xúc động. Đó là lúc đầu người ta dự định không cho gia đình các nạn nhân đến gần nơi cứu hộ để bảo đảm công tác giải cứu an toàn. Nhưng rồi, cậu bé 7 tuổi tên Bairo, con trai của người thợ mỏ Florencio Ávalos đã nài nỉ được vào chứng kiến giây phút đầu tiên cha mình trở về mặt đất. “Tôi nói với bé Bairo Ávalos rằng tôi chưa bao giờ gặp một cậu bé yêu bố mình đến như vậy”, Tổng thống Piñera của Chi-lê thuật lại, và ông đã chiều theo ý nguyện của cậu bé Bairo.
Ý nguyện của một công dân bé nhỏ Bairo Ávalos đã không bị bỏ qua. Mạng sống con người, trong hoàn cảnh ít hy vọng nhất và dễ thối chí nhất, luôn được trân trọng. Nếu các vị lãnh đạo của đất nước Việt Nam mà biết lắng nghe như vị tổng thống Chi-lê thì hay biết mấy!
Trong số thợ mỏ được cứu sống, có một người thuộc quốc tịch Bô-li-vi-a. Đích thân tổng thống của Bô-li-vi-a cũng có mặt trong giây phút trọng đại này để chào đón người con của đất nước vừa được cứu sống. Cả vị tổng thống và anh thợ mở người Bô-li-vi-a đã đồng thanh hô lớn : “Mil Gracias, Chile” (Ngàn lần cảm ơn đất nước Chi-lê).
Chi-lê vừa trải qua cơn động đất kinh hoàng vào đầu năm nay với gần 1000 thiệt mạng. Vị tổng thống đương nhiệm, tỉ phú Sebastián Piñera trong ngày nhận chức tổng thống thì dư chấn của cơn động đất vẫn còn. Ông từng tuyên bố trước lễ nhậm chức :"Chúng tôi sẽ không phải là chính phủ của động đất, mà sẽ là chính phủ của tái thiết". Và ông đã hành động thật sự dù tiếp sau đó với bao nhiêu sự kiện lớn nhỏ xảy ra, nay lại thêm vụ sập khu hầm mỏ với 33 thợ mỏ đang sống dở chết dở nhưng ông không đầu hàng, mà luôn có mặt trên từng cây số để trấn an người dân. Đây quả là vị tổng thống hết mình vì dân, vì nước mà chính người dân đã tin tưởng và bỏ phiếu cho.
Tôi muốn ghi lại sự kiện đáng nhớ này của những người dân Nam Mỹ, hay nói đúng hơn, cách hành xử của những vị lãnh đạo hết lòng vì dân của những dân tộc mà đôi lúc tôi cho rằng kém văn minh hơn Việt Nam của chúng ta với bốn ngàn năm văn hiến. Nghĩ lại mà thấy xót xa cho người Việt Nam của mình khi mà những người dân nghèo có chết cũng mặc kệ, hay chỉ vì không đội mũ bảo hiểm mà bị bắn què giò hoặc bị đánh cho tới chết. Cũng là con người sao ở nơi này người ta coi trọng mà nơi khác người ta lại xem thường! Một công dân Mỹ gốc Hàn bị bắt ở Bắc Triều Tiên vì tình nghi là gián điệp, mà đích thân cựu tổng thống Mỹ phải qua thương lượng để giải cứu, trong khi biết bao nhiêu người Việt chính gốc bị bắt, bị hành hạ, bị sỉ nhục bởi những “nước lạ” mà những người được gọi là “đầy tớ nhân dân” lại chẳng bao giờ nhớ đến các ông chủ của mình. Ngay cả nước Paraguay lạc hậu mà người ta còn biết tôn trọng nhân phẩm, còn biết thương dân, còn Việt Nam mình thì sao! Vụ bão lụt ở Miền Trung trong những ngày đầu của tháng 10 vừa qua với bao nhiêu thiệt hại và con người và tài sản mà thử hỏi có mấy vị lãnh đạo cấp cao đến tận nơi để thăm hỏi, động viên như ông tổng thống tỉ phú Piñera của Chi-lê!
Tôi chỉ là một nhà truyền giáo nhỏ vô danh đang làm việc ở một đất nước mà rất ít người biết đến. Những việc tôi làm và cuộc sống hàng ngày của tôi cũng chẳng có gì đặc biệt. Nhưng tôi yêu công việc của tôi, yêu những người dân chất phát ở nơi này và tôi sẵn sàng làm mọi thứ cho họ dù nhiều lúc tôi cảm thấy hơi phủ phàng về cách họ đối xử với tôi. Tuy nhiên tôi nhận ra một điều là tôi không hổ thẹn với lương tâm khi mình đã sống đúng với lời thề của một tu sĩ truyền giáo. Tôi cầu xin cho những vị lãnh đạo của đất nước Việt Nam thân yêu của tôi biết thương và lo cho dân như lời hứa ngày họ tuyên thệ nhậm chức.
Lại thêm một năm nữa kỷ niệm ngày chịu chức linh mục, con xin dâng lời tạ ơn Chúa đã gìn giữ con trong sứ vụ linh mục dù có những lúc cuộc đời đã làm con chao đảo. Cảm ơn những người thân, ân nhân và bạn bè đã luôn cầu nguyện, nâng đỡ những khi con yếu lòng. Hôm nay con đã dâng lễ tạ ơn với những ý hướng đó. Xin Chúa giúp con luôn trung thành với ơn gọi và ban ơn cho những người thân yêu, những ân nhân và bạn hữu đã từng nâng đỡ và đồng hành với con trong ơn gọi này.
Paraguay 31/ 10/2010, kỷ niệm ngày chịu chức linh mục
Lm. Antôn Trần Xuân Sang, SVD.

PARAGUAY : NÓI CHUYỆN VỀ ƠN GỌI


Thế là đã gần 2 năm tôi vừa làm việc trên các giáo điểm truyền giáo vừa kiêm thêm làm việc trong Chủng viện truyền giáo của Tỉnh Dòng nên cũng phần nào thấu hiểu công việc đào tạo đầy khó khăn đối với các linh linh mục tương lai trong vùng đất Mỹ La-tinh này.
Trong chuyến công du Anh quốc 4 ngày vừa qua (từ 16/9 đến 19/9) của Đức Thánh Cha Biển Đức 16, dù biết bao điều quan trọng cần phải nói, nhưng có một điều ngài không thể không nhắc đến là trong bài giảng lễ tại nhà thờ Chính Tòa Wesminter hôm 18/9, ngài đã lên tiếng xin lỗi về vụ một số giáo sĩ lạm dụng tính dục trên thế giới cũng như trong Khối Thịnh Vượng Anh đã làm hoen ố hình ảnh Giáo Hội. Nguyên văn có đoạn viết : “Tôi cũng nghĩ tới nỗi khổ đau mênh mông do các vụ lạm dụng tính dục trẻ em gây ra, một cách đặc biệt do các thừa tác viên của Giáo Hội gây ra. Tôi xin bầy tỏ nỗi khổ đau sâu xa của tôi đối với các nạn nhân vô tội của các tội phạm không thể định tính được này, với niềm hy vọng quyền năng ơn thánh của Chúa Kitô và hiến tế hòa giải của Ngài sẽ đem lại sự chữa lành sâu xa và niềm an bình cho cuộc sống của họ. Cùng với anh chị em tôi cũng thừa nhận sự xấu hổ và nhục nhã, mà chúng ta tất cả đã phải đau khổ vì các tội phạm này. Tôi mời gọi anh chị em dâng lên Thiên Chúa sự xấu hổ và nhục nhã đó, với niềm tin tưởng rằng hình phạt này sẽ góp phần chữa lành các nạn nhân, thanh tẩy Giáo Hội và canh tân nhiệm vụ ngàn đời của Giáo Hội trong việc giáo dục và lo lắng cho người trẻ. Tôi cũng bầy tỏ lòng biết ơn của tôi đối với các cố gắng đương đầu với vấn đề này với tinh thần trách nhiệm, và tôi xin tất cả anh chị em lo lắng cho các nạn nhân và liên đới với các linh mục của anh chị em”.
Tôi muốn nhân cơ hội này để nói chuyện về ơn gọi ở Paraguay qua những sự việc không hay đã, đang xảy ra ở Paraguay và các nước láng giềng của Paraguay vùng Nam Mỹ mà hàng ngày các báo đài đã thi nhau chỉ trích khiến hình ảnh những vị mục tử không còn đẹp như xưa nữa và đây cũng là một trong những nguyên nhân mà giới trẻ ngày nay không mấy tha thiết gì đến ơn gọi.
Trong những lúc ngồi bàn chuyện vui với một số ban hữu thân tín, chúng tôi thường nói đùa rằng xã hội thật xét đoán bất công vì cùng một cái tội gây nên nhưng nếu ba hạng người khác nhau cùng phạm cái tội đó thì sẽ bị xét đoán khác nhau. Ví dụ cùng cái tội “ăn chả, ăn nem” mà một thường dân, một giáo dân phạm đi phạm lại nhiều lần thì chẳng ai lên án cả. Nếu người phạm tội là người có chức quyền thì có thể bị tố để đòi tiền hay bị mất chức. Còn nếu người phạm tội mà là… tu sĩ hay linh mục thì chẳng những danh thơm tiếng tốt của cá nhân vị này bị bêu xấu cả ngàn lần trên mặt báo, đài mà còn mang tiếng cả giáo hội, nhất là giáo hội địa phương nơi vị ấy từng phục vụ.
Giáo hội Paraguay trong những năm gần đây, và nhất là những ngày gần đây lại tiếp tục chịu khổ sở vì búa rìu dư luận xào nấu, bôi nhọ và thậm chí phỉ báng khi một số giáo sĩ Công giáo của chúng ta có những vấn đề chạy đua quyền lực và lạm dụng tính dục. Con số đó như hạt cát ngoài đại dương nhưng qua truyền thông bóp méo, nó trở thành một mối nguy lớn mà hàng ngày giới trẻ và ngay những người được xem là thực hành đạo cách sốt sắng cảm thấy hoang mang.
Khi làm việc với giới trẻ ở đây, nhất là các bạn trẻ đang tìm hiểu về ơn gọi, các bạn trẻ thường hỏi tôi rằng tại sao có nhiều linh mục lại không thực hành những gì họ giảng dạy? Tôi hỏi các em các linh mục ấy dạy những gì? Các em trả lời rằng rất nhiều linh mục rao giảng rằng không được ham hố quyền lực, không được phá vỡ hạnh phúc của người khác… nhưng chính các vị ấy lại phản bội lại lời thề của mình khi đang còn đương nhiệm chức vị mà lại đi vận động để ứng cử vào các chức vị hành chính của xã hội như thị trưởng, tỉnh trưởng, và có một số vị bị đưa lên báo chí vì lạm dụng tính dục. Giới trẻ bấy giờ tinh tế và bạo dạn thật. Chúng nghe, chúng thấy và chúng sẵn sàng nói chứ không còn sợ sệt như trước đây. Mà thời đại bùng nổ thông tin bây giờ có muốn giấu thì cũng không thể giấu được khi mọi chuyện đã rành rành như thế. Tôi đã lắng nghe các em cách chăm chú và đã chia sẻ các em những tâm tình thật sự vì nếu không cuộc đối thoại sẽ chẳng đi vào đâu. Tôi nói với các em rằng các linh mục, tu sĩ nam nữ tuy đã được thánh hiến nhưng họ vẫn còn có chất người nên những cám dỗ xảy ra hàng ngày là điều khó có thể tránh. Tiền bạc, địa vị, danh vọng ai mà chẳng mê! Nhất là chúng ta đang sống trong thế giới hưởng thụ với nhiều sự tự do. Tôi đã cho các em những ví dụ rất cụ thể là có rất nhiều cặp hôn nhân công giáo dù họ đã kết hôn thành sự và đã hứa hẹn không thể tách rời cho đến chết, nhưng chỉ vài tháng hay vài năm sau đó họ đã ly dị chỉ vì sự thiếu thủy chung và bội ước lời thề. Hay chính các em đà từng hứa với cha mẹ và gia đình sẽ trở thành con ngoan, trò giỏi nhưng có mấy em đã thực hành lời hứa ấy? Sau đó tôi đưa ra một kết luận nho nhỏ với các em rằng các em đừng phong thánh sớm hay thần tượng quá mức các linh mục, tu sĩ kẻo có ngày những vị thánh sống ấy sa xuống hỏa ngục hay thần tượng bị sứt tai thì chính các em sẽ bị mất lòng tin. Tuy nhiên nếu mỗi người hàng ngày biết cố gắng sống và thực hành những gì mình cam kết thì sẽ vượt qua.
Tôi không cố tình bênh vực hay ngụy biện cho những người đồng đạo của mình do những gì họ đã gây nên. Nhưng nếu xét lại cho đúng thì xã hội bây giờ nhiều khi khá bất công khi đòi hỏi và kỳ vọng quá nhiều vào những linh mục, tu sĩ, rồi một khi những vị được thánh hiến đó sa chân, lỡ bước thì cũng không ngần ngại đạp luôn. Tôi còn nhớ có một bài viết của một anh em linh mục trong tờ báo Tiến Bước của nhóm Cursillo thuộc tổng giáo phận Los Angeles, Hoa Kỳ vào năm 2009, có nói rằng nhiều gia đình rất mong muốn con em mình trở thành linh mục, tu sĩ và đã nuôi cho bằng được. Rồi khi những người con ấy thành danh và thành công với biết bao lời chúc tụng thì chính những cha mẹ và những bậc ân nhân ấy cũng tưởng rằng đã xong nhiệm vụ. Nhưng thật tình mà nói, nuôi mà không dưỡng thì những người con ấy sẽ chết yểu mất. Bởi thế, chính các vị linh mục, tu sĩ cùng với những người thân yêu phải cùng nhau phấn đấu và đừng bao giờ ru ngủ trên chiến thắng của mình và đừng cho rằng mình đã đủ đạo đức để chiến thằng ba thù.
Trở lại chuyện ơn gọi ở Paraguay. Lúc này tôi được làm việc nhiều hơn với các nhà đào tạo liên tu sĩ của Paraguay cũng như gần gũi với giới trẻ nên hiểu được những mối bận tâm của từ hai phía. Người đi tu thì ít mà người xuất tu lại nhiều. Khi tôi về thăm Việt Nam trong những tháng hè vừa qua, tôi thấy hãnh diện về nước Việt mình sao đến giờ vẫn còn nhiều ơn gọi đến như vậy. Còn ở đây mình mời họ đi tu và vẽ vời biết bao viễn cảnh mà họa may chỉ có mấy tên “hơi cà chớn” mới nhận lời. Có một nữ tu phụ trách về ơn gọi người Brazil kể cho chúng tôi nghe về chuyện Sơ tuyển sinh mà thấy đau lòng. Số là Sơ đã lien lạc trước với các em dự tu và đã thăm nhà từng em. Họ đã lên chương trình cho ngày nhập Dòng. Đúng ngày hôm ấy, Sơ phụ trách ơn gọi đã chuẩn bị tất cả từ thánh lễ, thức ăn và các chương trình sinh hoạt. Gần đến giờ thì Sơ không thấy em nào đến nên bối rối và phải gọi điện cho từng em. Từ đầu dây bên kia các em trả lời đơn giản rằng các em không muốn vì các em đã có người yêu. Sơ phụ trách buồn và xấu hổ quá sức khi phải điện thoại xin lỗi vị linh mục sắp đến cử hành thánh lễ. Nhiều chuyện thật dễ khóc, dở cười và chính tôi cũng vừa gặp những trường hợp tương tự. Tôi nghĩ chỉ có Việt Nam mình vì còn quá nhiều ơn gọi nên các nhà đào tạo lựa đi, lựa lại vậy mà vẫn còn gặp những trường hợp lợi dụng hay núp bóng nhà tu để học hành và tiến thân. Có lẽ do bị tiêm nhiễm thói đời thế tục nên các tu sinh ngày nay thiếu đi sự hy sinh mà chỉ mong được hưởng thụ. Tôi thấy các tu sinh ở đây sướng quá nên … sinh tệ. Họ đòi hỏi nhiều thứ vì nghĩ rằng do thiếu hụt ơn gọi nên Giáo hội cần họ và phải đáp ứng cho họ những gì họ muốn. Tôi đã giải thích cho các tu sinh rằng thật đúng là Giáo hội rất cần những bạn trẻ, những vị mục tử có tinh thần dấn thân phục vụ chứ Giáo hội không cần những con người chỉ lo nghĩ đến quyền lợi của mình.
Trong những cuộc hội thào và chia sẻ của các nhà đào tạo liên tu sĩ ở Paraguay, chúng tôi đã cố gắng đưa ra một chương trình huấn luyện chung và trao đổi những mối bận tâm mà chúng tôi đang gặp phải với những người mình đang đào tạo. Dù thiếu ơn gọi nhưng chúng tôi không quan tâm về số lượng mà chỉ quan tâm về chất lượng. Có những Dòng lâu năm rồi nhưng hiện nay hàng năm chỉ có 1 tập sinh hoặc chẳng có tập sinh nào. Chủng viện truyền giáo tầm cỡ như Dòng Ngôi Lời chúng tôi tại Paraguay mà hiện nay chỉ có 20 chủng sinh thuộc nhiều lớp khác nhau, trong đó có mấy chủng sinh ngoại quốc rồi. Nghĩ lại mà thấy thương cho nước Việt mình vì số ơn gọi quá đông mà hàng năm số ứng sinh được gọi vào chủng viện hay nhà Dòng bị giới hạn và phải đợi chờ xét duyệt từ năm này đến năm khác. Tôi có chia sẻ chuyện này với những nhà đào tạo ở đây và họ nói rằng nếu những ứng sinh ấy có cợ hội đi nước ngoài thì bao nhiêu ứng sinh nam và nữ họ cũng nhận vì họ cảm thấy thích dân Việt mình. Nhưng tiếc thay điều đó không mấy dễ dàng với người Việt chúng ta vì còn nhiều trắc trở. Chúng ta hãy cầu nguyện Giáo hội hoàn vũ dù hiện nay đang khủng hoảng nhiều vấn đề trong đó có vấn đề về ơn gọi, có được những mục tử nhiệt thành và sẵn sàng dấn thân cho sứ vụ.
Paraguay 29/ 9/2010 (Lễ Các Tổng Lãnh Thiên Thần)
Lm. Trần Xuân Sang, SVD.

domingo, 12 de septiembre de 2010

TẢN MẠN NHỮNG NGÀY HÈ 2010

Có nhiều người thân email hỏi tôi rằng sao lâu nay thấy vắng bóng trên sân cỏ truyền giáo ở Paraguay hay là bị bóng hồng nào ở Paraguay hớp hồn mà im hơi lặng tiếng như vậy. Xin thành thực trả lời vì từ tháng 2 đến giờ phải lo nhiều chuyện bên lề, rồi sau đó có kỳ nghỉ hè 3 tháng thăm những người thân nên phải tạm gác bút một thời gian để chiêm nghiệm những gì mình đã làm và chuẩn bị hành trang cho những tháng ngày sắp đến. Hôm nay, sau khi đã trở lại vùng đất truyền giáo của mình, xin chia sẻ vài cảm nghiệm sau chuyến nghỉ hè đầy bổ ích vì lấy lại được phong độ cả thể xác lẫn tinh thần cho một kỳ phiêu lưu mới.

Những tháng ngày ở Hoa Kỳ
Một số anh em bè bạn chúng tôi thường nói đùa với nhau rằng ai mà đặt chân đến Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ dù chỉ một lần là mãn nguyện rồi. Bởi thế, khi tôi loan tin cho các anh em đồng môn về chuyến đi Hoa Kỳ của tôi trong dịp hè, ai nấy đều chưng hửng vì họ nghĩ rằng một anh chàng hai lúa như tôi với lý lịch chẳng ngon lành gì mà lại được chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cấp visa trong vòng 2 năm, mà tôi đăng ký làm visa tại Paraguay nữa chứ! Chính tôi cũng không tin là họ cấp cho tôi visa nhanh như vậy. Tôi tin là Chúa đã giúp tôi trong vấn đề này.
Từ Paraguay, tôi đã đến Hoa Kỳ vào những ngày đầu tháng 5 năm 2010 sau khi ghé hai trạm dừng ở Peru và Chile. Thực tình mà nói trong chuyến Mỹ du này tôi có 3 điều cần phải thực hiện : Một là gặp một linh mục điều phối viên về đào tạo vùng Châu Mỹ, hai là thăm những người thân trong đó tôi sẽ cử hành lễ mừng thọ và kỷ niệm hôn phối của cha mẹ đỡ đầu của tôi và ba là tôi muốn biết nước Mỹ như thế nào.
Khi tôi đến phi trường Miami bang Florida, nhân viên hải quan ở đó quá lịch sự và niềm nở khi biết tôi là linh mục truyền giáo ở Paraguay. Anh ta đã nói chuyện với tôi bằng tiếng Tây Ban Nha và chỉ dẫn cho tôi cách chu đáo về hộ hiếu của tôi sẽ làm lại ở đâu trong nước Mỹ vì sắp hết hạn. Qua cách đối xứ lịch thiệp như thế từ nhân viên hải quan dù họ cũng kiểm tra gắt gao hành lý và cả con người vì lý do an ninh, tôi nhận thấy rằng khi sống ở những quốc gia văn minh thì cũng làm cho con người trở nên văn minh và lịch lãm hơn.
Từ Miami, tôi lại lên đường để bay đến San Francisco bang California. Những người thân đã ra đón tôi tay bắt mặt mừng nhưng đượm một nỗi buồn mà lúc đầu họ không nói cho tôi biết. Sau này trước khi tôi bay về Việt Nam, ba mẹ đỡ đầu của tôi mới nói cho tôi biết là hình như tôi có vấn đề trầm trọng về sức khỏe nên khuôn mặt của tôi trở nên xám xịt và nước da trở nên tái nhạt. khi nhìn vào hình thì tôi mới nhận ra điều đó. Tôi cứ tưởng là do làm việc ở xứ sở nóng nắng nên tôi dần dần cũng giống người Paraguay, nào ngờ tôi phát hiện là tôi bị bệnh gan.
Những ngày ở Cali tôi được những người thân và bạn bè thương mến và chăm chút. Cha sở nhà thờ chính tòa Oakland, CA đã từng đọc những bài chia sẻ truyền giáo của tôi trên Vietcatholic đã mời tôi đồng tế thánh lễ với ngài, và sau thánh lễ chính ngài giới thiệu cho mọi người trong xứ về tôi và còn khôi hài rằng, ai muốn gởi mì tôm cho tôi thì cứ gởi trực tiếp ở đây. Tuy mọi người không chuẩn bị trước, nhưng ai nấy đều có một chút quà nhỏ chia sẻ cho tôi dù đời sống kinh tế ở nước Mỹ hiện giờ gặp muôn vàn khó khăn. Qua đó tôi nhận thấy rằng người Việt Nam chúng ta dù ở đâu, dù trong hoàn cảnh nào vẫn luôn là những người có tấm lòng từ tâm nhất. Tôi nhận quà của họ mà bật khóc trong long dù tôi không hề mở miệng xin ai. Nhiều khi nghĩ lại mình cũng hơi tủi thân một chút là nhiều năm mình làm việc ở Paraguay mà ngày mình đi về thăm quê hương, không một con chiên nào cho được 1 đôla để ăn quà, trong khi những người Việt sống ở Mỹ xa xôi mà chưa bao giờ mình giúp họ ngày nào mà họ lại đối xứ với mình tốt đến như vậy.
Tôi cũng được dâng thánh lễ và chia sẻ Lời Chúa cho 2 cộng đoàn Việt Nam, một ở Bay Point, Bắc Cali với một cha bạn đang làm phó xứ, và một ở Riverside, Nam Cali với cha cùng Dòng từng làm việc ở Việt Nam. Hai cộng đoàn Việt Nam nhỏ bé này nhưng tâm hồn thì rất bao la. Họ đã đón tiếp tôi như một người con từ xa trở về vì họ từng được đọc những bài chia sẻ của tôi trên mạng Vietcatholic.
Tôi cũng đã đến thăm một cộng đoàn Việt Nam khác ở mãi Tucson bang Arizona, nơi một người bạn nối khố của tôi đang sinh sống. Trong những ngày đó cha xứ vắng nhà nên nhờ tôi dâng thánh lễ dù lễ ngày thường chỉ khoảng 20 người. Những người Việt Nam thân yêu ấy luôn để lại trong tôi những ấn tượng đẹp và là một lực đẩy giúp tôi tiếp tực sứ mạng truyền giáo của tôi.
Tôi cũng đã được thăm và dâng thánh lễ tại Trung Tâm LaVang ở Las Vegas bang Nevada với những người Việt Nam thiểu số ở vùng đất ăn chơi này. Nhìn thấy hình ảnh thân quen của Việt Nam nơi xứ người mà càng nhớ quê hương da diết.
Tôi đã dâng thánh lễ cho ba má đỡ đầu nhân dịp mừng thọ và kỷ niệm lễ cưới tại Oakland, Bắc Cali với những bạn bè và người thân của gia đình. Gặp lại những người đồng hương Việt Nam với biết bao câu chuyện buồn vui sau nhiều năm xa cách mà lòng cảm thấy ấm lại. Dù tình hình kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Mỹ đang trong giai đoạn khủng hoảng khó khăn nhưng tình người, tình đồng hương không hề phai mờ theo năm tháng.

Về thăm quê hương Việt Nam
Ngày mong đợi để thăm quê hương cũng đã đến. Tôi đã đến sân bay Tân Sơn Nhất vào những ngày đầu của tháng 6 sau khi quá cảng ở San Francisco và Hongkong. Tôi không muốn báo tin cho gia đình vì sợ Ba Má tôi biết tôi về sẽ quá vui rồi không biết chuyện gì sẽ xảy ra khi tình trạng sức khỏe của các ngài đang trong tình trạng nguy kịch. Tôi chỉ báo cho nhà Dòng biết ngày giờ tôi đến phi trường và chỉ có vài thầy học viện ra đón tôi cùng với cha linh hướng.
Tháng 6 trời mưa và đường xá Sài Gòn đang trong giai đoạn tu sửa nên có quá nhiều lô cốt và người đông nghìn nghịt. Chỉ từ Phi trường Tân Sơn Nhất về đến đường Bành Văn Trân, quận Tân Bình, là trụ sở của Dòng tôi mà mất rất nhiều thời gian. Vừa bước vào khuôn viên học viện khi các thầy chuẩn bị ăn trưa và thấy các thầy bàn tán xôn xao về bộ dạng của tôi. Cha bề trên miền Sài Gòn nhìn tôi có vẻ thương hại khi thấy tôi tàn tạ như thế. Đã gần 1 tháng tẩm bổ bên Mỹ mà khi về tới Việt Nam còn như thế thì không biết nếu tôi từ Paraguay trực tiếp trở về thì thiên hạ sẽ nhìn tôi thế nào nữa đây. Các thầy học viện đã xì xào với nhau rằng họ sẽ không dám đi truyền giáo như cha Sang nữa đâu vì sợ có ngày sẽ thân tàn ma dại. Nghĩ cũng thấy thương cho lớp đàn em vì thời đại hưởng thụ bây giờ mà các em vẫn đâm đầu vào đi tu với biết bao lo lắng trong đời sống tu trì.
Đau đớn nhất là khi tôi trở về chính mái nhà thân yêu của mình sau khi chào thăm nhà Dòng, tôi thấy Má tôi đang sốt sắng cầu nguyện lớn tiếng cho tôi và cho cha bạn tôi ở nước ngoài. Tôi đã chào Má tôi nhưng má tôi không hề nhận ra tôi. Bà vẫn tiếp tục râm ra cầu nguyện như người xuất thần và thỉnh thoảng liếc nhìn tôi. Nhìn mái đầu bạc trắng của bà với cái miệng móm méo vì không còn răng mà lòng chợt nhói đau. Má tôi đã thay đổi nhiều quá kể từ ngày tôi ra đi. Bà đã có nhiều cú sốc khi anh trai tôi mất, rồi người chị thân quí nhất của bà cũng bỏ bà ra đi. Nhưng ít ra tôi còn được gặp mặt má tôi an lành, khỏe mạnh dù trí nhớ của bà không còn như trước nữa.
Tôi cũng bước vào chào ba tôi khi ông đang nằm trên chiếc ghế dài. Ông không nghe gì được nhưng nước mắt ông trào ra khi nhận ra tôi. Những người bạn cùng tuổi với ba tôi cũng bị căn bệnh tai biến giờ đã quy tiên hết rồi, còn ba tôi bị nặng hơn nhưng Chúa đã để ba con chúng tôi được gặp nhau trong dịp này để trút bầu tâm sự. Tôi có một niềm tin xác tín rằng Chúa rất công bình và từ nhân, Người không để ai thua thiệt và Người cũng không thất tín bao giờ.
Tôi đã gặp lại được những bè bạn và những người thân yêu sau nhiều năm xa cách. Ai nấy đều có vẻ già đi do tuổi tác và lo kế sinh nhai. Ai cũng có một gia đình dù là bé nhỏ, chỉ có tôi vẫn một thân, một mình nơi viễn xứ trở về!
Sau những ngày chào thăm gia đình và những người thân yêu, tôi bắt đầu lo cho sức khỏe của mình. Tôi đã đến bệnh viện Mắt của Sài gòn để điều trị con mắt trái sắp bị hỏng do một tai nạn ở Paraguay. Tôi cũng đã đến trung tâm Hòa Hảo Sài Gòn để khám tổng quát và biết rằng tôi có vấn đề rất nghiêm trọng về gan do ăn uống cẩu thả ở vùng truyền giáo. Nhìn hóa đơn khám bệnh và toa thuốc lên tới gần hơn chục triệu đồng mà thấy choáng ván. Thôi thì bệnh thì phải chữa và cũng may là có một vài cha bạn hiểu ý nên cho lễ mập để trả những khoảng chí phí này.
Tôi cũng đến một số cộng đoàn tu trì để dâng thánh lễ và chia sẻ về đời sống truyền giáo tại xứ tôi đang làm việc. Mọi người nghe và cảm thông nhiều cho công việc của các nhà truyền giáo, nhất là các Soeurs của các Dòng Phú Xuân - Huế, Cộng đoàn Phaolô ở Kontum, Dòng Ảnh Phép Lạ KonTum, Dòng Mân Côi Chí Hòa, Cộng đoàn MTG Khiết Tâm Sài Sài Gòn… đều tỏ lòng mến mộ và hứa sẽ luôn cầu nguyện cho các nhà truyền giáo.
Trong những ngày hè ở Việt Nam, tôi cũng được tham dự các thánh lễ đại triều trong năm linh mục. Ngày lễ kết thúc năm linh mục của Tổng Giáo Phận Sài Gòn là ngày 11 tháng 6 với lễ phong chức của 33 tân linh mục thuộc Dòng và Triều, trong đó có 4 anh em tân linh mục thuộc Dòng Ngôi Lời chúng tôi. Từ lâu lắm rồi tôi mới được tham dự những thánh lễ đại triều long trọng như thế ở Việt Nam. Những anh em linh mục từng biết tôi qua trang mạng Vietcatholic, nay lại được gặp mặt và cùng nhau chia sẻ nhiều điều trong vấn đề mục vụ. Tôi có chia sẻ với các cha rằng ở Việt Nam dù một xứ khỉ ho cò gáy nào cũng may mắn gấp nhiều lần so với các xứ vùng truyền giáo ở hải ngoại. Hầu hết các cha cũng đều đồng ý như thế.
Có lẽ những ngày vui nhất của tôi là được trở về Nhà Dòng Mẹ tại Nha Trang, đó là nơi tôi bắt đầu tập tu, khấn Dòng và chịu chức cũng tại đây. Tôi về đúng dịp lễ khấn truyền thống của Nhà Dòng. Tuy nhiên cũng đúng ngày hôm đó, Nhà Dòng vừa có tin vui vừa có tin buồn. Tin vui là có các Thầy Tân Khấn Sinh và các Thầy Khấn Trọn, còn tin buồn là một tu sĩ đáng kính của Nhà Dòng từ giã cõi đời khi vừa tròn 50 năm khấn Dòng. Tôi đã được tham dự và chứng kiến những sự kiện đáng nhớ đó và các anh em trong Dòng đã luôn đón tiếp tôi với một tình huynh đệ thật sự dù giờ này tôi đã thuộc một tỉnh Dòng khác.
Hôm nay ngồi viết lại những dòng kỷ niệm này khi tôi đã trở lại Paraguay sau những tháng hè đáng nhớ để nói lên một tâm tình tạ ơn. Cuộc sống mà thiếu vắng những lời tạ ơn, nói như người Paraguay thường nói, giống như bữa ăn thiếu củ mì và bữa uống thiếu trà Terere. Tôi muốn nói lời cảm ơn, tuy muộn màng đến những người Việt Nam thân yêu ở Mỹ, những nơi mà tôi được đặt chân đến như Oakland, Pittsburg, Bay Point, San José, Garden Grove, Riverside, Tucson, Las Vegas… Chính những người Việt thân yêu này, nhiều người dù tôi chỉ gặp lần đầu tiên nhưng đã để lại trong tôi những ấn tượng khó phai vì họ đã cho tôi niềm tin, sự quý trọng và lòng nhân ái để tôi tiếp tục định hướng cho công việc truyền giáo của tôi. Chỉ có những người Việt sống xa quê hương mới hiểu cảnh ngộ của những người như mình. Rất cảm ơn Ba Má đỡ đầu đã tạo điều kiện cho con được tiếp cận với những người Việt dễ thương bên Cali.
Xin cảm ơn các anh chị trong gia đình đã thay mặt em chăm sóc cha mẹ già trong hoàn cảnh nghiệt ngã và suy thoái kinh tế như hiện giờ. Chúa sẽ trả công cho các anh chị khi anh chị biết chu toàn chữ hiếu.
Xin cảm ơn các anh em trong Dòng SVD-Giuse Việt Nam về những tình cảm anh em đã giành cho trong những ngày về thăm Việt Nam.
Xin cảm ơn Quý Cha, Quý Sơ và những giáo dân mà con từng quen biết đã luôn nâng đỡ, cầu nguyện và giúp đỡ con bằng cách này hay cách khác trong những ngày con làm việc ở Paraguay hay chuyến về thăm quê hương vừa rồi. Con sẽ luôn ghi khắc vào tâm khảm những tâm tình quý báu này.
Paraguay mùa này lạnh lắm nhưng lòng con bổng trở nên ấm hơn sau chuyến thăm quê hương đầy lưu luyến. Chính nhờ những động lực này mà thỉnh thoảng có thể hâm nóng lại đời tu sau những lúc tưởng chừng như tắt ngấm. Xin cầu chúc mọi người luôn được bình an và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống hàng ngày.
Paraguay, 23 tháng 8 năm 2010,
Lm. Trần Xuân Sang, SVD.

VIẾT VỀ CHA NHÂN NGÀY HIỀN PHỤ

Lâu nay tôi cũng muốn viết một điều gì đó về người cha nhưng cứ lưỡng lự mãi vì hồi giờ đâu thấy mấy ai viết về cha của mình. Mãi tới những ngày nghỉ hè để thăm những người thân ở Hoa Kỳ và sau đó trở về thăm Việt Nam sau nhiều năm xa cách, hình ảnh người cha chợt hiện ra với tôi khi một người bạn của tôi ở Tucson, Arizona xin tôi viết một điều gì đó để anh ta tạ lỗi với người cha của mình nhân dịp Father’s Day sắp đến. Vì lời yêu cầu của anh ta khiến tôi suy nghĩ nhiều về người Cha trên chuyến bay trở về Việt Nam từ San Francisco đến Phi Trường Tân Sơn Nhất. Người đón tôi tại Phi trường giữa trưa hè oi bức là người cha linh hướng thuở nào đã đón tôi và ôm tôi sau nhiều năm xa cách. Thế là tôi có cảm hứng để viết một điều gì đó nhân ngày Hiền Phụ sắp đến để gởi đến những người cha mà tôi đã từng thụ ân.
Thực tình mà nói nếu ai hỏi tôi giữa cha và mẹ, tôi sẽ thương ai hơn? Chắc chắn tôi sẽ trả lời là tôi thương mẹ tôi hơn vì ngay từ nhỏ hình ảnh của người cha luôn làm cho tôi có một gì đó sợ hơn là thương. Tuy nhiên lúc này khi tôi đã là một “ông cha nhà thờ”, một linh mục thì tôi mới hiểu được công ơn của những người cha đã từng góp phần để hình thành nên một mái ấm gia đình, một nền tảng xã hội vững chắc.
Nói về người cha, thi ca Việt Nam từ ngàn xưa đã đúc kết lại biết bao câu bất hủ như : Công cha như núi Thái Sơn; Tình cha ấm áp như vầng Thái Dương; Cha là bắt đầu cho nguồn gốc, cho lý tưởng và cho tương lai…
Tuy nhiên, để nói hay viết nhiều về người cha thì nhiều người không mấy hứng thú để viết, để nói vì nghĩ đến hình ảnh người cha là người ta nghĩ đến một gương mặt cương nghị, nghiêm khắc và hoàn toàn trái ngược với hình ảnh của người mẹ. Chính tôi cũng có những kinh nghiệm tương tự như vậy với người cha sinh thành ra tôi.
Không rõ tự khi nào tôi bắt đầu quen dần với từ Cha, Ba hay Bố (tiếng Việt), Father, Dad (tiếng Anh), Padre, Papá (tiếng Tây Ban Nha), Pa’i (tiếng Guarani) và trong nhiều ngôn ngữ khác để gọi người đã sinh thành ra mình trong thân xác hay trong tinh thần.
Trước đây tôi không biết ngày nào để nói lời tri ân và tạ lỗi những người cha mà tôi đà từng thụ ân, trong đó có người cha già yếu của tôi đã cho tôi hình hài trong cõi đời này mà hiện nay thể xác của Ba tôi ngày càng kiệt sức do tuổi tác và bệnh tật. Tôi cũng muốn nhân dịp này để nói lời cảm ơn và tạ lỗi người cha linh hướng đã giúp tôi rất nhiều trong đời sống tâm linh suốt những năm mài dùi kinh sử để trở thành một linh mục truyền giáo. Tôi cũng chân thành tri ân người cha đỡ đầu không chỉ lo cho tôi về vật chất nhưng còn luôn cầu nguyện và mong muốn mọi điều tốt đẹp cho tôi. Đó là những người cha mà tôi luôn ghi tạc dù không nói ra nhưng đã để lại trong tôi những dấu ấn khó phai.
Ngày của Cha là một ngày lễ khá mới mẻ ở Mỹ. Ý tưởng tổ chức Ngày của Cha bất chợt đến với Sonora khi cô đang nghe một bài giảng về Ngày của Mẹ vào năm 1909. Sau khi mẹ cô mất, Sonora cùng với các anh chị em do một tay cha cô – ông William Jackson Smart – nuôi nấng, dạy dỗ. Sonora muốn nói với cha rằng ông quan trọng và ý nghĩa với cô biết dường nào. Cha của cô sinh vào tháng 6, vì thế cô đã chọn tổ chức ngày của cha lần đầu tiên tại Spokane, Washington vào ngày 19 tháng 6 năm 1910.
Vào năm 1972, Tổng Thống Mỹ Richard Nixon đã quyết định chọn ngày Chúa Nhật thứ 3 của tháng 6 chính thức là Quốc Lễ dành riêng cho những người Cha. Như thế, Ngày của Cha đã được hình thành từ ký ức và lòng biết ơn của một người con gái luôn tin rằng cha của cô và tất cả những người cha khác đều xứng đáng được tôn vinh vào một ngày thật đặc biệt.
Quả thực những người cha cũng đáng được tôn vinh như những người mẹ vì họ đã từng dày công vun đắp, dưỡng dục cho những người con thân yêu của mình và tạo lập cơ ngơi cho gia đình. Thiếu vắng bóng dáng của người cha trong gia đình, những người con sẽ cảm thấy hụt hẫng và mất đi một chỗ dựa rất lớn nên tục ngữ có câu : “Con không cha như nhà không nóc”. Những người cha dạy cho con trai biết bảo vệ, che chở cho mái ấm gia đình và dạy cho con gái sự can đảm để vượt qua trước những thử thách cam go.
Tôi đã học được nhiều điều bổ ích từ người cha ruột của mình từ khi tôi còn rất bé. Tôi còn nhớ từ sau biến cố 1975, gia đình tôi phải chuyển đến vùng kinh tế mới để làm lại cuộc đời! Từ một gia đình mà trước đây không hề thiếu thốn thứ gì, Ba tôi phải làm đủ mọi thứ để nuôi một đại gia đình gồm 10 người. Dù ngày ngày quần quật làm lụng để nuôi các con, Ba tôi cũng có những giờ để răn dạy anh em chúng tôi “Đói cho sạch, rách cho thơm” giữa một thời đại nhiễu nhương vàng thau lẫn lộn. Nhìn bề ngoài ông không phải là một người Công giáo gương mẫu, nghĩa là sớm tối đi lễ đọc kinh, nhưng Ba tôi luôn nhắc nhở con cái, và chính ông luôn chu toàn nghĩa vụ thiêng liêng vào các Chúa Nhật và lễ trọng. Ba tôi chỉ khiêm tốn nhận chức đóng áo quan miễn phí và tẩm liệm cho những người chết mà nhiều lúc Má và các anh em tôi chống đối ông vì sợ làm như thế sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và nhiễm bệnh cho các thành viên trong gia đình. Tôi cũng có nhiều lần bị Ba tôi đánh đòn vì đi xem phim mà không xin phép. Những lúc như thế tôi giận Ba tôi lắm nhưng sau này tôi mới hiểu được ông. Mới đây khi tôi trở về thăm quê hương sau mấy năm xa cách, Ba tôi tuy còn tỉnh táo nhưng không đi lại được do căn bệnh tai biến đã khiến Ba tôi bán than bất toại và tai bị điếc. Ba tôi đã khóc khi nhìn thấy tôi trở về xơ xác vì công việc nhà Chúa nơi xứ truyền giáo. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy Ba tôi khóc mà lòng mình cũng quặn đau. Tôi biết làm gì được cho Ba tôi lúc này! Chẳng lẽ tôi xin với Nhà Dòng để hồi hương hay sao? Chúa ơi, Chúa giúp con với!
Tôi cũng có một người cha linh hướng khi tôi bắt đầu bước vào Học viện Triết. Chính vị linh mục đáng kính này đã hình thành nhân cách cho tôi và giúp tôi rất nhiều trong đời tận hiến. Ngài luôn dõi theo và cầu nguyện cho từng bước chân truyền giáo của tôi và dù ở xa, nhưng ngài luôn liên lạc để khích lệ tôi. Tôi không ngờ ngày tôi về thăm quê hương người ra đón tôi lại chính là ngài dù công việc khá bận rộn của ngày thứ Hai đầu tuần. Tôi thật hạnh phúc vì có một vị linh hướng trước sau như một luôn ân cần, quan tâm và cầu nguyện cho tôi.
Tôi cũng muốn viết lên đây để tri ân và chúc mừng người cha đỡ đầu của tôi vừa mừng thọ 70 tuổi tại Hoa Kỳ. Ông từng là một giáo sư trường Nguyễn Bá Tòng và sau biến cố 1975, ông di tản sang Mỹ để lập nghiệp. Ông từng đảm nhận nhiều trọng trách trong các cộng đoàn giáo xứ Việt Nam tại Bắc Cali và luôn là một người chồng, người cha gương mẫu. Ông rất quí mến tôi và luôn âm thầm cầu nguyện và giúp đỡ tôi những lúc tôi gặp khó khăn. Người mẹ đỡ đầu của tôi khi biết tôi phải chịu đựng những khó khăn, thiếu thốn bên xứ truyền giáo đã muốn liên hệ tìm cho tôi một chỗ kha khá để làm việc và tiến thân nhưng người cha đỡ đầu của tôi đã trách mắng bà làm như thế sẽ phá hỏng lý tưởng mà tôi hằng theo đuổi. Khi tâm sự và chia sẻ với ông tôi học được nhiều điều bổ ích từ cuộc sống.
Có lẽ nhiều người khi đọc bài viết này sẽ hỏi tôi tại sao tôi có nhiều người cha như thế. Xin thưa rằng trong cuộc sống chúng ta mắc nợ nhau nhiều lắm và những vị chủ nợ ân tình là những người Cha, người Bố của chúng ta. Xin viết lên những tâm tình này để kính tặng những người Cha, người Ba, người Bố trong ngày Hiền Phụ. Nguyện xin Thiên Chúa là vị Cha Chung Trên Trời của tất cả chúng ta ban nhiều ơn lành hồn xác cho tất cả những người Cha Dưới Đất để họ sống xứng đáng với Ơn Gọi Làm Cha.
Lm. Antôn Trần Xuân Sang, SVD.

martes, 22 de septiembre de 2009

Tạm kết

Trên đây là những tâm sự trong những ngày tháng làm việc tại Paraguay mà tôi muốn chia sẻ để mọi người có thể biết được tại một đất nước xa xôi cách Việt Nam chúng ta nửa vòng trái đất. Cũng phải nhìn nhận rằng người Việt chúng ta hiện nay đang sống và làm việc rất nhiều nơi trên thế giới và khá thành công trong nhiều lĩnh vực. Anh em Dòng Ngôi Lời Việt Nam chúng tôi cũng đang hiện diện tại các nước vùng Nam Mỹ này và thường xuyên có những liên lạc với nhau để thắt chặt tình huynh đệ và tình đồng hương.

Xin mọi người hiệp ý cầu nguyện cho các nhà truyền giáo trên thế giới, đặc biệt là các nhà truyền giáo Việt Nam đang làm việc tại các vùng hẻo lánh xa xôi và đầy hiểm nguy.

Xin cầu chic mọi người luôn được bình an, hạnh phúc và tràn đầy ơn Chúa.

Hẹn gặp lại trong các tập sách tới.

Trong Chúa Kitô,
Lm. Antôn Trần Xuân Sang, SVD.